Thời gian nào được tính là giờ làm việc ban đêm?

Theo Điều 106 Bộ luật Lao động 2019, giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.

Như vậy, người lao động làm việc trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau được xác định là làm việc ban đêm. Ví dụ, nếu người lao động làm việc từ 20 giờ đến 04 giờ sáng hôm sau thì thời gian từ 22 giờ đến 04 giờ được tính là thời gian làm việc ban đêm.

Bộ luật Lao động 2019 quy định thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong một ngày và không quá 48 giờ trong một tuần.

Đối với người lao động làm việc từ 06 giờ trở lên trong một ngày, khoản 1 Điều 109 Bộ luật Lao động 2019 quy định được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút liên tục. Riêng trường hợp làm việc ban đêm thì thời gian nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút liên tục.

Làm việc ban đêm: Quy định về giờ làm và tiền lương

Làm việc vào ban đêm, người lao động có được trả thêm tiền?

Theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.

Cụ thể, người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.

Tiền lương làm việc ban đêm đối với người hưởng lương theo thời gian

Căn cứ theo Điều 98 Bộ Luật lao động 2019, đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm việc vào ban đêm được xác định trên cơ sở tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường cộng với khoản tiền trả thêm ít nhất 30% và nhân với số giờ làm việc vào ban đêm.

Có thể khái quát công thức:

Tiền lương làm việc vào ban đêm = (Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường + Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường × 30%) × Số giờ làm việc vào ban đêm. 

Trong đó, tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định theo quy định pháp luật và không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương; tiền thưởng và các khoản phụ cấp, hỗ trợ khác.

Tiền lương làm việc ban đêm đối với người hưởng lương theo sản phẩm

Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm việc vào ban đêm được tính dựa trên đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, cộng với khoản tiền ít nhất bằng 30% đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường và nhân với số sản phẩm làm vào ban đêm.

Công thức khái quát:

Tiền lương làm việc ban đêm = (Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường + Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường × 30%)× Số sản phẩm làm vào ban đêm.

Làm thêm giờ vào ban đêm được trả bao nhiêu?

Trường hợp người lao động vừa làm thêm giờ, vừa làm việc vào ban đêm, ngoài tiền lương làm thêm giờ và tiền lương làm việc vào ban đêm theo quy định, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc tương ứng.

Như vậy, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm có thể được hưởng nhiều khoản tiền lương bổ sung cùng lúc, tùy thuộc vào ngày làm việc và thời điểm làm thêm.

Có được sử dụng lao động nữ mang thai, đang nuôi con nhỏ làm việc ban đêm?

Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong một số trường hợp.

Cụ thể, không được bố trí làm việc ban đêm đối với:

  • Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 trở đi;

  • Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 06 trở đi nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

  • Lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.

Như vậy, pháp luật không cấm lao động nữ mang thai làm việc ban đêm trong toàn bộ thời gian mang thai. Nếu chưa đến tháng thứ 07, hoặc chưa đến tháng thứ 06 đối với trường hợp làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, thì không thuộc trường hợp bị cấm bố trí làm việc ban đêm theo quy định này.

Đối với lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người sử dụng lao động chỉ có thể bố trí làm việc ban đêm khi được chính người lao động đồng ý.

Do đó, người sử dụng lao động cần xác định đúng thời điểm mang thai, tình trạng nuôi con nhỏ và sự đồng ý của người lao động trước khi bố trí ca làm việc ban đêm để bảo đảm đúng quy định của pháp luật lao động.

Xem thêm: Lao động nữ nghỉ thai sản có bị trừ ngày phép năm không ?