Sau khi nộp đơn ly hôn, người khởi kiện có được rút đơn không?
Sau khi nộp đơn ly hôn, người khởi kiện có quyền rút đơn nếu thay đổi quyết định và không còn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, việc rút đơn được thực hiện như thế nào còn phụ thuộc vào giai đoạn giải quyết vụ việc.
Theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện và chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình theo quy định pháp luật.
Do đó, người khởi kiện có thể rút đơn ly hôn khi Tòa án chưa thụ lý hoặc rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện khi vụ án đã được thụ lý. Đối với trường hợp đã thụ lý, việc rút yêu cầu được giải quyết theo quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Thủ tục rút đơn ly hôn được thực hiện như thế nào?
Tùy thuộc vào tình trạng xử lý hồ sơ, người khởi kiện có thể thực hiện việc rút đơn ly hôn theo các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Tòa án chưa thụ lý vụ án
Nếu Tòa án mới nhận đơn ly hôn nhưng chưa thụ lý vụ án, người khởi kiện có thể gửi văn bản đề nghị rút đơn đến Tòa án đang tiếp nhận hồ sơ.
Trong văn bản, người làm đơn cần ghi rõ thông tin của người khởi kiện, thông tin người còn lại, ngày nộp đơn, nội dung yêu cầu rút đơn và lý do rút đơn nếu có.
Trường hợp 2: Tòa án đã thụ lý vụ án
Nếu Tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn, người khởi kiện có thể nộp văn bản rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện cho Tòa án đang giải quyết vụ án.
Theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc đình chỉ được xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Rút đơn ly hôn có được nộp lại đơn khởi kiện không?
Theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Xem thêm: Hòa giải ly hôn được bao nhiêu lần?













