Cưỡng ép kết hôn và cản trở kết hôn là gì?

Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn và cản trở kết hôn là những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ thông qua các hình thức như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc thủ đoạn khác.

Cản trở kết hôn là hành vi cố ý ngăn cản người khác kết hôn tự nguyện, tiến bộ, chẳng hạn sử dụng sức ép tinh thần hoặc yêu sách của cải để buộc người khác từ bỏ việc kết hôn.

Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc kết hôn phải do nam và nữ tự nguyện quyết định. Vì vậy, không cá nhân nào được ép buộc người khác kết hôn hoặc ngăn cản trái pháp luật quyền tự do kết hôn của họ.

Cưỡng ép kết hôn và cản trở kết hôn bị xử lý ra sao?

Cưỡng ép kết hôn và cản trở kết hôn bị phạt hành chính bao nhiêu?

Theo Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, hành vi vi phạm quy định về kết hôn có thể bị xử phạt hành chính tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.

Cụ thể:

  • Hành vi cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

  • Hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Mức phạt cụ thể được xác định theo hành vi thực tế và quy định pháp luật áp dụng. Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể phải chịu những hậu quả pháp lý khác nếu hành vi đáp ứng điều kiện theo quy định.

Khi nào hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở kết hôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015, người có hành vi cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hình phạt được quy định tại Điều 181 bao gồm:

  • Phạt cảnh cáo;

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm;

  • Phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

Như vậy, không phải mọi hành vi cản trở hoặc cưỡng ép kết hôn đều đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đầy đủ hành vi, các yếu tố cấu thành tội phạm và điều kiện luật định, trong đó có tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm theo Điều 181.

Như vậy, không phải mọi hành vi cản trở hoặc cưỡng ép kết hôn đều đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đầy đủ hành vi, các yếu tố cấu thành tội phạm và điều kiện luật định, trong đó có tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm theo Điều 181.

Người bị cưỡng ép kết hôn có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật không?

Theo khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị chủ thể có thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định.

Việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo các điều kiện và trình tự do pháp luật quy định. Khi xem xét yêu cầu, Tòa án sẽ xác định việc kết hôn có vi phạm điều kiện kết hôn và có căn cứ để hủy hay không.

Do đó, người bị cưỡng ép kết hôn không chỉ được pháp luật bảo vệ quyền tự nguyện quyết định việc kết hôn mà còn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xem thêm: Chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn có hợp pháp không?