1. Cha mẹ được giữ tiền lì xì của con đến khi nào?
Theo Khoản 1 Điều 75 Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng; tài sản từ thu nhập do lao động của con; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác.
Do đó, tiền lì xì mà người thân, bạn bè hoặc người khác tặng riêng cho trẻ về nguyên tắc được xác định là tài sản riêng của người con.
Việc cha mẹ giữ tiền lì xì không đồng nghĩa với việc cha mẹ trở thành chủ sở hữu của khoản tiền này. Cha mẹ chỉ có quyền quản lý tài sản của con theo quy định pháp luật.
Cụ thể, Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:
Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
Con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì tài sản riêng do cha mẹ quản lý. Tài sản phải được giao lại cho con khi con đủ 15 tuổi hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
Như vậy, cha mẹ có thể giữ và quản lý tiền lì xì của con khi con chưa đủ tuổi tự quản lý tài sản. Tuy nhiên, việc quản lý phải nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của con, không làm phát sinh quyền sở hữu của cha mẹ đối với khoản tiền này.

2. Cha mẹ giữ tiền lì xì của con không trả có bị phạt không?
Việc cha mẹ giữ tiền lì xì để quản lý cho con là khác với việc cố tình chiếm giữ tiền lì xì của con và không trả lại.
Theo điểm n khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, hành vi chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình được xác định là một trong những hành vi bạo lực gia đình về kinh tế.
Đáng chú ý, Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên gia đình.
Theo đó, trường hợp cha mẹ cố tình chiếm giữ tiền lì xì của con trái quy định có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Ngoài việc bị xử phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc trả lại tài sản đã chiếm giữ trái phép cho người có tài sản. Trường hợp tài sản đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái quy định thì có thể phải nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản đã chiếm giữ trái phép.
Vì vậy, cha mẹ không nên hiểu rằng việc mình là người đại diện hoặc quản lý tài sản của con đồng nghĩa với việc có thể tự ý sử dụng tiền lì xì cho mục đích cá nhân.
3. Cha mẹ ly hôn có được chia tiền lì xì của con không?
Khi cha mẹ ly hôn, một vấn đề khác có thể phát sinh là tiền lì xì của con có được đưa vào khối tài sản để chia giữa vợ và chồng hay không?
Câu trả lời là không, nếu khoản tiền này thực sự được tặng riêng cho người con.
Như đã phân tích, tiền lì xì được tặng riêng cho con là tài sản riêng của con theo Điều 75 Luật Hôn nhân và Gia đình . Đây không phải tài sản chung của vợ chồng nên không được đưa vào khối tài sản chung để phân chia khi ly hôn.
Điều 77 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định về việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên. Theo đó, cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con có thể định đoạt tài sản vì lợi ích của con. Trường hợp con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Đối với con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, con có quyền định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp tài sản là bất động sản hoặc động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ theo quy định.
Trong khi đó, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Tài sản chung của vợ chồng được phân chia theo quy định pháp luật, có tính đến hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của mỗi bên; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp; cũng như lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình , tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng;
Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp đã được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân;
Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn, trừ trường hợp thuộc tài sản riêng theo quy định pháp luật.
Như vậy, tiền lì xì được tặng riêng cho con không phải là tài sản chung của cha mẹ. Khi cha mẹ ly hôn, khoản tiền này không được đưa vào khối tài sản chung để chia cho vợ hoặc chồng.
4. Cha mẹ cần lưu ý gì khi quản lý tiền lì xì của con?
Việc quản lý tiền lì xì của con nên được thực hiện minh bạch và vì lợi ích của con. Cha mẹ có thể giữ tiền để bảo quản, gửi tiết kiệm hoặc sử dụng cho những nhu cầu chính đáng của con theo quy định pháp luật và phù hợp với độ tuổi của trẻ.
Đặc biệt, cha mẹ cần phân biệt rõ giữa quản lý tài sản của con và chiếm đoạt tài sản của con. Việc cha mẹ quản lý tiền lì xì không làm thay đổi quyền sở hữu của người con đối với khoản tiền này.
Nếu cha mẹ sử dụng tiền lì xì vào các nhu cầu thiết yếu, học tập, chăm sóc, chữa bệnh hoặc những lợi ích chính đáng khác của con thì cần bảo đảm việc sử dụng phù hợp với quy định về quản lý, định đoạt tài sản riêng của con.
Tiền lì xì của con được tặng riêng là tài sản riêng của con, không phải tài sản chung của cha mẹ. Cha mẹ có thể quản lý khoản tiền này khi con chưa đủ tuổi tự quản lý tài sản theo Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình .
Khi con đủ 15 tuổi, con có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc tiếp tục nhờ cha mẹ quản lý. Trường hợp cha mẹ cố tình chiếm giữ tiền lì xì của con trái quy định, hành vi này có thể bị xử phạt theo Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP và phải hoàn trả tài sản theo quy định. Đồng thời, khi cha mẹ ly hôn, tiền lì xì của con không được chia cho cha hoặc mẹ vì đây là tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của người con.
Xem thêm: Nhặt được tài sản nhưng không trả lại có bị phạm tội không?













