Mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn năm 2026 là bao nhiêu?
Căn cứ theo Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đối với cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Theo đó tại khoản 2 quy định về các khoản tiền cần cấp dưỡng và mức cấp dưỡng cho con sau ly hôn. Cụ thể như sau:
Điều 7. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình
"1. Trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con.
Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.
2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con."
Mức lương tối thiểu vùng hiện nay được xác định theo Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
| Vùng | Mức lương tối thiểu tháng ( Đơn vị: Đồng/tháng | Mức lương tối thiểu giờ ( Đơn vị: Đồng/giờ) |
| I | 5.310.000 | 25.500 |
| II | 4.730.000 | 22.700 |
| III | 4.140.000 | 20.000 |
| IV | 3.700.000 | 17.800 |
Lưu ý, danh mục địa bàn vùng I, vùng II, vùng III, vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP.
Như vậy, sau khi ly hôn, cha, mẹ nếu không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ phải cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn năm 2026 do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định nhưng tối thiểu bằng một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.
Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng tối thiểu phải bằng mức cấp dưỡng sau đối với mỗi vùng:
- Vùng I: 2tr655 đồng / tháng
- Vùng II: 2tr365 đồng / tháng
- Vùng III: 2tr070 đồng / tháng
- Vùng IV: 1tr850đồng / tháng.

Có thể yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng trong quá trình nuôi con không?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn và việc thay đổi mức cấp dưỡng như sau:
"Điều 116. Mức cấp dưỡng
1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."
Như vậy, mức cấp dưỡng có thể thay đổi trong quá trình nuôi con khi có lý do chính đáng. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Những người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là ai?
Căn cứ theo Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, những người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bao gồm:
"Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó."
Như vậy, các chủ thể có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bao gồm:
- Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người được cấp dưỡng;
- Người thân thích;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.













