Categories: Uncategorized
Từ 29/4/2026: Phân cấp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất về địa phương thay đổi như thế nào?
Việc ban hành Nghị quyết 17/2026/NQ-CP thể hiện rõ chủ trương cải cách mạnh mẽ trong quản lý đất đai theo hướng phân quyền sâu hơn cho địa phương, nhằm rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, giảm tầng nấc trung gian và nâng cao tính chủ động của chính quyền các […]
Việc ban hành Nghị quyết 17/2026/NQ-CP thể hiện rõ chủ trương cải cách mạnh mẽ trong quản lý đất đai theo hướng phân quyền sâu hơn cho địa phương, nhằm rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, giảm tầng nấc trung gian và nâng cao tính chủ động của chính quyền các cấp.
Từ 29/4/2026: Phân cấp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất về địa phương thay đổi như thế nào?
Theo nhiệm vụ và giải pháp tại Nghị quyết 17/2026/NQ-CP, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành tiến hành rà soát toàn bộ thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh hiện hành. Trên cơ sở đó, những nội dung đủ điều kiện sẽ được chuyển giao cho địa phương quyết định và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Trong lĩnh vực đất đai, trọng tâm phân cấp được xác định là các thủ tục có thể xử lý trực tiếp tại địa phương, không cần qua nhiều tầng nấc xin ý kiến hoặc trình duyệt trung gian. Đáng chú ý bao gồm các thủ tục như quyết định giao đất, cho thuê đất, điều chỉnh dự án có sử dụng đất và các nội dung liên quan.
Nghị quyết nhấn mạnh nguyên tắc “rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm”, theo đó sau khi phân cấp, cơ quan địa phương được giao quyền phải chủ động ra quyết định và chịu trách nhiệm toàn diện đối với kết quả thực hiện, không đùn đẩy hoặc phụ thuộc cấp trên.
Song song đó, việc phân cấp phải gắn liền với cải cách thủ tục hành chính và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tránh tình trạng “chuyển giao thẩm quyền nhưng giữ nguyên quy trình phức tạp”. Các thủ tục đất đai sau phân cấp cần được cắt giảm tối đa khâu trung gian, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao hiệu quả giải quyết công việc.
Ngoài ra, Nghị quyết yêu cầu chuẩn hóa, công khai quy trình và điều kiện thực hiện để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất giữa các địa phương, hạn chế tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.
Để triển khai, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng phương án phân cấp cụ thể, đồng thời đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ khi áp dụng.
Nghị quyết 17/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 29/4/2026 đến hết ngày 01/3/2027, trừ một số nội dung đặc biệt. Trong thời gian áp dụng, nếu có văn bản pháp luật mới ban hành và có hiệu lực điều chỉnh cùng nội dung thì quy định tương ứng trong Nghị quyết sẽ hết hiệu lực theo văn bản mới. Trường hợp có sự khác nhau về thủ tục hành chính hoặc điều kiện kinh doanh, sẽ ưu tiên áp dụng theo Nghị quyết 17/2026/NQ-CP.
Như vậy, việc phân cấp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất về địa phương từ 29/4/2026 theo Nghị quyết 17/2026/NQ-CP là bước đi quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai. Cơ chế này giúp rút ngắn quy trình xử lý, giảm tầng nấc trung gian, tăng tính chủ động cho chính quyền địa phương và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đồng thời, việc gắn phân cấp với đơn giản hóa thủ tục, chuẩn hóa và công khai quy trình sẽ góp phần tạo môi trường minh bạch, thống nhất, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận, sử dụng và thực hiện các quyền liên quan đến đất đai trên phạm vi toàn quốc.

Từ 29/4/2026: Phân cấp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất về địa phương thay đổi như thế nào?
Điều kiện Nhà nước giao đất, cho thuê đất được quy định như thế nào?
Theo Điều 116 Luật Đất đai 2024, việc giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải dựa trên các căn cứ pháp lý cụ thể, tùy từng trường hợp như sau:
1. Căn cứ giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là văn bản phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Căn cứ giao đất, cho thuê đất thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất là văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
3. Căn cứ giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này, như sau:
– Đối với dự án thuộc danh mục quy định tại điểm b khoản 3 Điều 67 của Luật này thì căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư hoặc quyết định chấp thuận nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về nhà ở hoặc văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
– Đối với dự án quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật này thì căn cứ vào quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư hoặc quyết định chấp thuận nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về nhà ở hoặc văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
4. Trường hợp quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư dự án có phân kỳ tiến độ hoặc việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo tiến độ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quyết định việc giao đất, cho thuê đất theo tiến độ của dự án đầu tư, tiến độ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
5. Căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
6. Căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư theo pháp luật về đầu tư được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
7. Chính phủ quy định chi tiết về việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Như vậy, việc giao đất, cho thuê đất hay cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không được thực hiện tùy ý mà phải dựa trên hệ thống căn cứ pháp lý chặt chẽ, bao gồm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quyết định đầu tư và kết quả lựa chọn nhà đầu tư (nếu có). Tùy từng trường hợp cụ thể như đấu giá, đấu thầu hay không qua đấu thầu mà điều kiện áp dụng sẽ khác nhau. Do đó, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu sử dụng đất cần xác định đúng loại dự án và đối chiếu đầy đủ căn cứ pháp luật để đảm bảo đủ điều kiện được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định hiện hành.