Posted by thuydung on Tháng 6 17, 2026
Categories: Uncategorized

Vu khống người khác trên mạng xã hội có bị phạt tiền?

Trong kỷ nguyên số, các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok, Zalo,… dễ dàng biến thành công cụ để bôi nhọ, xúc phạm danh dự người khác. Hậu quả của những lời đồn thổi trên mạng ảo lại gây ra những thiệt hại vô cùng nặng nề ngoài đời thực. Vậy dưới góc […]

Trong kỷ nguyên số, các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok, Zalo,… dễ dàng biến thành công cụ để bôi nhọ, xúc phạm danh dự người khác. Hậu quả của những lời đồn thổi trên mạng ảo lại gây ra những thiệt hại vô cùng nặng nề ngoài đời thực. Vậy dưới góc độ pháp luật, hành vi vu khống người khác trên mạng xã hội bị xử lý thế nào?

Thế nào là hành vi vu khống trên mạng xã hội?

Vu khống là hành vi cố ý bịa đặt hoặc loan truyền những thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Trên thực tế, hành vi vu khống trên mạng xã hội thường xuất hiện dưới các hình thức như: Đăng bài viết bịa đặt về người khác trên Facebook, TikTok, Zalo; Chia sẻ thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín cá nhân; Cắt ghép hình ảnh, video nhằm bôi nhọ người khác;…

Căn cứ khoản 1 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cho nên, hành vi vu khống trên mạng xã hội là trái với quy định pháp luật.

Mức phạt hành chính đối với hành vi vu khống trên các nền tảng số

Đối với hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức hoặc danh dự, nhân phẩm của cá nhân, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ- CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP). Mức phạt tại Nghị định này được áp dụng cho tổ chức, trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức căn cứ theo khoản 3 Điều 4 Nghị định này.

– Mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân; phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức. Thêm vào đó, áp dụng biện pháp khắc phục buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn trên mạng xã hội.

Cần lưu ý rằng, mức phạt hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

Vu khống người khác trên mạng xã hội có bị phạt tiền?

Vu khống người khác trên mạng xã hội có bị đi tù không?

Người bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác phải và sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội vu khống” theo Điều 156 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

Căn cứ theo khoản 3 Điều Luật này, người phạm tội bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu hành vi vu khống đó vì động cơ đê hèn hoặc gây ra hậu quả cực kỳ nghiệm trọng như: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, làm nạn nhân tự sát.

Như vậy, vu khống người khác trên không gian mạng có thể bị đi tù nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng về danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Thêm vào đó, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm.

Đăng bài “bóc phốt” người khác có phải là vu khống không?

“Bóc phốt”: Là hành động công khai những thông tin lên mạng xã hội cho nhiều người cùng biết, phán xét và đánh giá. Những thông tin này thường không mấy tốt đẹp hoặc là việc làm sai trái của một cá nhân/dịch vụ/sản phẩm/tổ chức.

Đăng bài “bóc phốt” không đương nhiên bị coi là vu khống. Việc “bóc phốt” có cấu thành tội vu khống hay không phụ thuộc hoàn toàn vào tính xác thực của thông tin mà bạn đăng tải.

Nếu người đăng tải có căn cứ chứng minh sự việc là có thật, thông tin phản ánh đúng sự thật và không cố ý bịa đặt nhằm hạ thấp uy tín của người khác thì hành vi trên không phạm tội vu khống.

Ngược lại, nếu tự ý đăng tải thông tin chưa được kiểm chứng, thêm thắt tình tiết sai lệch hoặc cố tình đưa ra thông tin sai sự thật để hạ bệ uy tín, danh dự của người khác, hành vi này được coi như là vu khống. Người phạm tội có thể đối mặt với xử phạt hành chính và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người bị vu khống trên mạng xã hội có quyền yêu cầu bồi thường không?

Ngoài trách nhiệm hành chính hoặc hình sự của người vi phạm, người bị vu khống có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Các khoản bồi thường thiệt hạ do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm, căn cứ theo Điều 592 Bộ Luật Dân sự 2015.

– Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

– Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.

Call Now Button