Posted by thuydung on Tháng 7 2, 2026
Categories: Uncategorized

Tăng thời gian nghỉ thai sản từ ngày 1-7-2026

Luật Dân số 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026 và Chính phủ vừa ban hành Nghị định 168/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Dân số 2025, quy định cụ thể về chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, hỗ trợ tài chính khi sinh con và chính sách khám […]

Luật Dân số 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026 và Chính phủ vừa ban hành Nghị định 168/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Dân số 2025, quy định cụ thể về chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, hỗ trợ tài chính khi sinh con và chính sách khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh từ ngân sách nhà nước.

Thời gian, điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai

Về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản:

– Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

– Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

(Căn cứ theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động số 2019, sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025)

Về điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thuộc các trường hợp sau:

– Lao động nữ khi sinh con thứ hai mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống;

– Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con thứ hai mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.

(Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 168/2026/NĐ- CP)

Tăng thời gian nghỉ thai sản từ ngày 1-7-2026

Thời gian lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản

Theo khoản 2 Điều 53 Luật Bảo Hiểm xã hội 2024, sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 29 Luật Dân số 2025, lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản với thời gian như sau:

– 05 ngày làm việc;

– 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;

– Trường hợp vợ sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai thì được nghỉ 10 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi;

– Trường hợp vợ sinh đôi phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên phải phẫu thuật thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi.

Mức hỗ trợ tài chính khi sinh con

Theo Điều 3 Nghị định 168/2026/NĐ- CP, mỗi phụ nữ kkhi sinh con được hưởng mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2.000.000 đồng nếu thuộc các trường hợp sau:

a) Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;

b) Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế;

c) Phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi.

Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp được liệt kê trên thì được hưởng một mức hỗ trợ. Riêng trường hợp quy định tại b, c có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2027. Kinh phí thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện hành.

Trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ kinh phí khi sinh con:

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VneID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định tại khoản 1 Điều này cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.

Phụ nữ mang thai được khám, sàng lọc trước sinh đủ 04 bệnh cơ bản

Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 9 Nghị định 168/2026/NĐ- CP quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh:

1. Phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 04 bệnh cơ bản: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh) (sau đây gọi là gói dịch vụ sàng lọc trước sinh).

2. Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh đủ 05 bệnh cơ bản: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng (sau đây gọi là gói dịch vụ sàng lọc sơ sinh).

Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng cho một trường hợp và các bệnh bẩm sinh sơ sinh tại khoản 2 Điều 9 Nghị định này được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng cho một trường hợp. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá gói dịch vụ thì thực hiện mức hỗ trợ tài chính theo giá gói dịch vụ được phê duyệt.

Call Now Button