Posted by thuydung on Tháng 6 24, 2026
Categories: Uncategorized

Mua bán dữ liệu cá nhân có bị xử lý không?

Không ít trường hợp thông tin cá nhân bị rao bán công khai trên mạng hoặc bị sử dụng cho mục đích quảng cáo, tiếp thị mà chủ thể dữ liệu không hề hay biết. Vậy mua bán dữ liệu cá nhân có bị xử lý không? Người vi phạm có thể bị phạt hành […]

Không ít trường hợp thông tin cá nhân bị rao bán công khai trên mạng hoặc bị sử dụng cho mục đích quảng cáo, tiếp thị mà chủ thể dữ liệu không hề hay biết. Vậy mua bán dữ liệu cá nhân có bị xử lý không? Người vi phạm có thể bị phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Dữ liệu cá nhân là gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025: Dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân.

Như vậy, các thông tin liên quan đến một cá nhân như họ tên, số điện thoại, địa chỉ, email, số căn cước công dân, thông tin tài khoản ngân hàng, lịch sử giao dịch hoặc các thông tin giúp xác định danh tính của một người cụ thể đều được xem là dữ liệu cá nhân và được pháp luật bảo vệ.

Mua bán dữ liệu cá nhân có vi phạm pháp luật không?

Căn cứ theo Điều 38 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:

1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

….

Căn cứ khoản 6 Điều 7 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “Mua, bán dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Đồng thời, khoản 1 Điều 11 Luật này quy định tất cả các hoạt động trong quy trình xử lý dữ liệu cá nhân phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu

Nhận thấy rằng, nếu cá nhân hoặc doanh nghiệp việc tự ý thu thập, trao đổi, mua bán hoặc chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên thứ ba khi chưa có căn cứ pháp lý hoặc chưa được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu là hành vi vi phạm pháp luật.

Mua bán dữ liệu cá nhân có bị xử lý không?

Mức phạt vi phạm hành chính với hành vi vi phạm

Nếu hành vi mua bán dữ liệu khách hàng chưa gây ra hậu quả quá lớn để bị khởi tố hình sự, cá nhân/tổ chức vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung Nghị định 14/2022/NĐ- CP) như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó;

b) Cung cấp thông tin cá nhân cho bên thứ ba khi chủ thể thông tin cá nhân đã yêu cầu ngừng cung cấp.

2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng không đúng mục đích thông tin cá nhân đã thỏa thuận khi thu thập hoặc khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân;

b) Cung cấp hoặc chia sẻ hoặc phát tán thông tin cá nhân đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của chủ thông tin cá nhân;

c) Thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc hủy bỏ thông tin cá nhân do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1, các điểm b và c khoản 2 Điều này.

Căn cứ theo điểm a khoản 5 Điều 102 Nghị định này: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi mua bán hoặc trao đổi trái phép thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông.

Và các mức phạt này áp dụng đối với tổ chức trong trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán dữ liệu

Căn cứ theo khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 117, 155, 156 và 326 của Bộ luật này;

b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;

c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông.

Call Now Button