Posted by thuydung on Tháng 6 16, 2026
Categories: Uncategorized

Người khác mượn xe gây tai nạn, chủ có phải bồi thường?

Cho người khác mượn xe rồi gây tai nạn thì chủ xe có phải bồi thường hay chịu trách nhiệm hình sự không? Tìm hiểu các trường hợp phải bồi thường, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cho người khác mượn xe gây tai nạn, chủ xe có phải […]

Cho người khác mượn xe rồi gây tai nạn thì chủ xe có phải bồi thường hay chịu trách nhiệm hình sự không? Tìm hiểu các trường hợp phải bồi thường, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cho người khác mượn xe gây tai nạn, chủ xe có phải bồi thường không?

Căn cứ theo Điều 601 Bộ Luật Dân sự 2015, phương tiện giao thông vận tải cơ giới được xem là nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông: Do lỗi kỹ thuật của phương tiện giao thông hoặc lỗi của người điều khiển phương tiện giao thông, cụ thể:

– Trường hợp do lỗi kỹ thuật của phương tiên giao thông:

Nếu phương tiện giao thông bất ngờ gặp sự cố kỹ thuật như mất phanh, nổ lốp, kẹt chân ga… dẫn đến tai nạn trong khi người mượn xe lái xe hoàn toàn đúng luật thì đây được xác định là tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Chủ xe phải chịu trách nhiệm theo khoản 2 Điều 601 Bộ Luật Dân sự 2015:

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về người mượn xe. Chủ xe chỉ phải bồi thường nếu các bên có thỏa thuận về việc chủ xe sẽ chịu trách nhiệm khi đã giao xe cho người khác sử dụng mà gây tai nạn.

Trường hợp do lỗi người sử dụng phương tiện giao thông:

Nếu tai nạn giao thông xảy ra do lỗi điều khiển của người mượn xe như thì người này sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015: Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ Luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Cho nên, người mượn xe gây tai nạn giao thông thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người này. Chủ xe không phải chịu trách nhiệm.

Người khác mượn xe gây tai nạn, chủ có phải bồi thường?

Trường hợp nào chủ xe phải chịu trách nhiệm liên đới?

Mặc dù người điều khiển xe là người chịu trách nhiệm chính, nhưng chủ xe vẫn có thể bị liên đới trách nhiệm trong một số trường hợp sau:

– Cho người không đủ điều kiện lái xe mượn xe: Chủ xe đã biết rõ người mượn chưa đáp ứng điều kiện điều khiển phương tiện giao thông theo Điều 56 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 nhưng vẫn giao xe.

– Giao xe không đảm bảo an toàn kỹ thuật: Chủ xe đã biết phương tiện giao thông không an toàn nhưng vẫn cho người khác sử dụng.

Căn cứ theo khoản 4 Điều 601 Bộ Luật Dân sự 2015, khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại. Như vậy, chủ xe có thể phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường khi người mượn xe gây tai nạn giao thông nếu rơi vào hai trường hợp trên.

Xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ xe

Chủ xe sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính nếu giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Mức phạt cụ thể như sau:

– Đối với xe mô tô, xe gắn máy: Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân; từ 16.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức. (Khoản 10 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ- CP).

– Đối với xe ô tô, xe máy chuyên dụng: Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân; từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức. (Khoản 14 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ- CP).

Chủ xe có phải chịu trách nhiệm hình sự khi cho mượn xe không?

Trường hợp chủ xe đã biết xe không đảm bảo an toàn kỹ thuật nhưng vẫn cho người khác mượn để tham gia giao thông thì phải chịu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 262 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn”.

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ
20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Trường hợp chủ xe giao xe cho người không đủ điều kiện lái xe thì chủ xe phải chịu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp tại Điều 264 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Call Now Button