Miễn trách nhiệm hình sự là gì?
Miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng thuộc căn cứ và điều kiện do Bộ luật Hình sự quy định nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc miễn không được áp dụng tùy ý mà phải dựa trên những căn cứ cụ thể và được cơ quan có thẩm quyền xem xét theo quy định pháp luật.
Cần phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm. Nếu hành vi không có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự ngay từ đầu. Trong khi đó, miễn trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng thuộc trường hợp được pháp luật cho phép miễn.
Ngoài ra, miễn trách nhiệm hình sự cũng khác với miễn hình phạt. Miễn hình phạt là trường hợp người phạm tội vẫn được xác định là có tội nhưng được Tòa án miễn hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Do đó, không nên hiểu rằng cứ người phạm tội bồi thường thiệt hại, xin lỗi hoặc được bị hại đồng ý thì đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Việc bồi thường, khắc phục hậu quả hoặc hòa giải chỉ có ý nghĩa trong những trường hợp mà pháp luật quy định và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện liên quan.

Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, các trường hợp căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
Thứ nhất, người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
- Khi có quyết định đại xá.
Thứ hai, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
- Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Cuối cùng, người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự có phải là không phạm tội?
Miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc hành vi ngay từ đầu không cấu thành tội phạm. Đây là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội được pháp luật cho phép miễn trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện cụ thể.
Bên cạnh đó, cần phân biệt với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Theo Điều 16 Bộ luật Hình sự, người tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, mặc dù không có gì ngăn cản, thì được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Người này được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành một tội khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó.
Như vậy, để xác định khi nào được miễn trách nhiệm hình sự, cần xem xét đúng căn cứ pháp luật, tính chất của hành vi, tình trạng của người phạm tội và các tình tiết cụ thể của từng vụ việc. Không phải cứ bồi thường hoặc được người bị hại xin giảm nhẹ là đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự.
Xem thêm: https://luathongtrung.com/trach-nhiem-phap-ly-cua-kol-koc-khi-quang-cao-sai-su-that-tren-nen-tang-thuong-mai-dien-tu













